10 điểm để hiểu đúng về bệnh đái tháo đường

GS.TS. Thái Hồng Quang

Nguyên GĐ Bệnh viện 103 – Nguyên Chủ tịch Hội Nội tiết – ĐTĐ Việt Nam

 

1. BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG LÀ GÌ ?

  • Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh mạn tính, nhiều yếu tố tham gia vào cơ chế sinh bệnh, ngoài kiểm soát đường huyết, đòi hỏi phải chăm sóc y tế liên tục bằng nhiều biện pháp để giảm các yếu tố nguy cơ. Thường xuyên giáo dục, hỗ trợ bệnh nhân (BN) để họ tự chăm sóc bản thân là hết sức quan trọng để đề phòng những biến chứng cấp và làm giảm nguy cơ các biến chứng mạn tính. Chiến lược điều trị phải đa dạng, vừa điều trị để kiểm soát đường huyết, đồng thời phải điều trị các biến chứng do ĐTĐ và các bệnh đồng mắc cấp hoặc mạn tính, tùy thuộc từng BN để lập kế hoạch điều trị (cá thể hóa điều trị).
  • ĐTĐ xảy ra khi nồng độ đường (glucose) trong máu cao, do bất kỳ nguyên nhân nào làm tế bào beta tuyến tụy không tiết hoặc tiết không đầy đủ insulin, hoặc cơ thể đáp ứng không đầy đủ tác dụng của insulin. Đường không được chuyển hóa, không đi vào được trong tế bào, ứ lại trong máu, làm tăng đường máu. Tăng đường máu liên tục trong thời gian dài là nguyên nhân gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm như bệnh tim mạch, bệnh thận, bệnh thần kinh, mù lòa, cắt cụt chi v.v., suy giảm chất lượng sống và tử vong.
  • Đường (glucose) chủ yếu từ tinh bột (carbohydrate) trong thức ăn, trong các loại nước uống, là nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể, qua tuần hoàn glucose được chuyển đến tận các tế bào, bảo đảm hoạt động sống cho cơ thể.
  • Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, là bệnh mạn tính, phải điều trị bằng thuốc và thay đổi lối sống (tập luyện thể lực và dinh dưỡng) suốt đời.

2. BỆNH ĐTĐ CÓ NHỮNG LOẠI (típ) NÀO ?

Những típ ĐTĐ thường gặp nhất :

2.1. Bệnh ĐTĐ típ-2. Do cơ thể tiết insulin không đầy đủ, hoặc các tế bào trong cơ thể đáp ứng không bình thường đối với insulin (kháng insulin). Đây là thể đái tháo đường thường gặp nhất (trên 90% người bệnh bị ĐTĐ), chủ yếu gặp ở người lớn, cũng có thể gặp ở trẻ em.

2.2. Tiền đái tháo đường. Đây là giai đoạn sớm bệnh ĐTĐ, nồng độ đường trong máu cao hơn bình thường, nhưng chưa đến mức để chẩn đoán bệnh ĐTĐ típ-2. Đây là giai đoạn nếu phát hiện sớm, áp dụng những biện pháp như chế độ dinh dưỡng, tập luyện thể lực, bệnh có thể không chuyển sang bệnh ĐTĐ típ-2.

2.3. Bệnh ĐTĐ típ-1. Là một bệnh tự miễn dịch, hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công và phá hủy những tế bào tiết insulin tuyến tụy của bản thân mình. ĐTĐ típ-1 chiếm gần 10% người bị bệnh ĐTĐ. Bệnh gặp chủ yếu người trẻ, trung niên, nhưng cũng có thể gặp ở bất kỳ tuổi nào.

2.4. Bệnh ĐTĐ thai kỳ. Bệnh xảy ra trong thời kỳ người phụ nữ mang thai, thường hết sau khi đẻ. Nhưng nếu người phụ nữ đã bị ĐTĐ thai kỳ lần có thai trước, sẽ có nguy cơ cao bị ĐTĐ típ-2 trong tương lai.

2.5 Các típ đặc hiệu của ĐTĐ do những nguyên nhân khác như: Hội chứng ĐTĐ đơn gen (như ĐTĐ sơ sinh, MODY), ĐTĐ do tổn thương tụy ngoại tiết (như xơ nang tụy), do thuốc hoặc hóa chất như điều trị glucocorticoids, thuốc điều trị HIV/AIDS, hoặc sau ghép tạng).

3. BỆNH ĐTĐ CÓ HAY GẶP KHÔNG ?

Theo nhiều công trình nghiên cứu lớn trên thế giới, năm 2025, khoảng 537 triệu người trưởng thành trên thế giới bị bệnh ĐTĐ, con số này sẽ tăng lên 643 triệu vào năm 2030 và 783 triệu vào năm 2045. 37,3 triệu (11%) dân số người Mỹ bị ĐTĐ, típ 2 ĐTĐ là thể bệnh thường gặp nhất (90-95%) trong số người bị ĐTĐ.

Ở nước ta, điều tra toàn quốc của Bệnh viện Nội tiết Trung ương trong thời gian qua cho thấy: Năm 2002 tỉ lệ người mắc bệnh đái tháo đường trên toàn quốc là 2,7%. Sau 10 năm, năm 2012 tỉ lệ này đã tăng gấp đôi lên 5,4%. Kết quả điều tra toàn quốc gần đây nhất (năm 2020), tỉ lệ mắc bệnh đái tháo đường tại Việt Nam là 7,3%; Tỉ lệ tiền đái tháo đường là 17,8%, trên 60% người mắc đái tháo đường chưa được chẩn đoán, hơn một nửa số người trưởng thành chưa bao giờ được làm xét nghiệm đường huyết để phát hiện bệnh đái tháo đường.

Theo Liên đoàn ĐTĐ thế giới (IDF, 2025), ở Việt Nam, người trong độ tuổi từ 20 đến 79 ở Việt Nam, năm 2024 đã có 2,5 triệu người bị ĐTĐ.

4. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH ĐTĐ LÀ GÌ ?

Phụ thuộc vào típ – ĐTĐ. Ví dụ :

  • Kháng insulin. Là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh ĐTĐ típ-2. Kháng insulin xảy ra khi các cơ quan và tổ chức như tổ chức cơ, tổ chức mỡ, gan của cơ thể không đáp ứng đầy đủ với insulin, một số yếu tố và tình trạng tham gia với những mức độ khác nhau gây nên tình trạng kháng insulin như: béo phì, thừa cân, không vận động, ăn uống không hợp lý, mất cân bằng nội tiết, di truyền và một số loại thuốc nhất định.
  • Bệnh tự miễn dịch. Như bệnh ĐTĐ típ-1 hoặc thể bệnh LADA xảy ra khi hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công vào các tế bào tiết insulin của tuyến tụy bản thân mình.
  • Mất cân bằng hormone. Như trong bệnh ĐTĐ thai kỳ, khi có thai, nhau thai giải phóng các hormone có tác dụng kháng insulin. Bệnh ĐTĐ thai kỳ có thể xảy ra khi tuyến tụy không sản xuất đủ insulin để vượt qua tình trạng kháng insulin. Một số bệnh nội tiết khác như bệnh to đầu chi, hội chứng Cushing cũng có thể là nguyên nhân gây bệnh ĐTĐ típ-2.
  • Các tổn thương vật lý, chấn thương, phẫu thuật tuyến tụy..
  • Đột biến di truyền, đây là nguyên nhân gây nên bệnh MODY và bệnh ĐTĐ sơ sinh.
  • Sử dụng lâu dài một số thuốc như thuốc chữa HIV/AIDS, các thuốc glucocorticoid.

 

5. CÁC TRIỆU CHỨNG BỆNH ĐTĐ

Tùy thuộc vào típ – ĐTĐ, nhưng đều có những triệu chứng cơ bản sau đây:

  • Uống nhiều, khát nhiều, khô miệng, mệt mỏi, mắt nhìn mờ, sút cân không rõ nguyên nhân, vết loét trên da lâu liền hoặc phải can thiệp phẫu thuật, nhiễm trùng hoặc nấm vùng sinh dục v.v. Khi có những triệu chứng này, phải đến BS để khám ngay.
  • Một số triệu chứng theo thể bệnh ĐTĐ:

+ ĐTĐ típ-1: Bệnh có thể xảy ra rất nhanh, trong vài tuần hoặc vài tháng, nếu không được phát hiện có thể gây nên hôn mê do tăng đường huyết, có thể đưa đến tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Một số triệu chứng có thể để nhận biết: đái nhiều, uống nhiều, buồn nôn, sút cân, nôn, đau dạ dày, thở ra mùi trái cây, khó thở…

+ ĐTĐ típ-2 và tiền ĐTĐ. Người bệnh có thể không có triệu chứng gì, không biết mình bị ĐTĐ, chỉ phát hiện một cách ngẫu nhiên khi đi khám bệnh định kỳ, một số triệu chứng không điển hình như mệt mỏi, vô lực, tăng hoặc giảm cân, hoặc có người thấy xuất hiện mảng da màu đen vùng sau gáy v.v.

+ ĐTĐ thai kỳ. Thường không có triệu chứng gì rõ. Những phụ nữ có tiền sử đã bị ĐTĐ khi có thai lần trước, con sinh ra có cân nặng ≥ 4kg, hội chứng buồng trứng đa nang. Cần phải khám chuyên khoa nội tiết, phụ sản, làm nghiệm pháp tăng đường huyết để xác định sớm.

6. BIẾN CHỨNG BỆNH ĐTĐ.

Bệnh ĐTĐ có thể gây nên những biến chứng cấp (xảy ra nhanh, nặng), và biến chứng mạn tính, kéo dài trong suốt quá trình bị bệnh chủ yếu do nồng độ đường máu tăng cao liên tục trong thời gian dài.

+ Biến chứng cấp tính. Là biến chứng nguy hiểm có thể tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Có 3 loại thường gặp sau đây:

  • ĐTĐ típ-2 thường gặp biến chứng hôn mê tăng thẩm thấu, xảy ra khi nồng độ đường máu tăng liên tục trên 33,3 mmol/L (600mg/dL) trong thời gian dài làm mất nước nặng, hôn mê.
  • ĐTĐ típ-1 thường gặp biến chứng hôn mê do tăng ketone máu do cơ thể không được cung cấp đầy đủ insulin nên glucose không được chuyển hóa để cung cấp năng lượng, cơ thể sẽ phân hủy mỡ để thay thế, cuối cùng giải phóng ketone, tăng tình trạng nhiễm toan ketone máu, biểu hiện BN thở ra mùi táo, nôn, cuối cùng hôn mê. Nếu không được cấp cứu kịp thời bệnh nhân có thể tử vong.
  • Hôn mê do hạ đường huyết. Là tình trạng cấp cứu nguy hiểm, đặc biệt xảy ra ở những BN đang điều trị insulin, do tiêm không đúng liều, khi đói, khi cơ thể hoạt động thể lực quá mức v.v. Đường máu giảm sâu, đường máu tĩnh mạch < 3 mmol/L, khiến não thiếu năng lượng nghiêm trọng. Bệnh nhân thường co giật, hoặc tăng trương lực cơ, cuối cùng hôn mê sâu. Cần cấp cứu ngay bằng cách cho BN uống một cốc nước đường, cho BN đi cấp cứu ngay tại bệnh viện để được truyền đường ưu trương, tiêm glucagon để tránh tổn thương não không hồi phục hoặc tử vong.

+ Các biến chứng mạn tính.

  • Biến chứng tim mạch. Thường gặp nhất trong các biến chứng mạn tính do ĐTĐ, bao gồm: Bệnh động mạch vành, cơn tấn công tim (nhồi máu cơ tim), đột quỵ, vữa xơ động mạch.
  • Các biến chứng khác như: Bệnh thần kinh (tê bì ngoài da, ù tai, v.v.). Biến chứng thận đưa đến suy thận, bệnh võng mạc mắt có thể đưa đến mù lòa, biến chứng bàn chân do ĐTĐ, có thể phải cắt cụt chi, nhiễm trùng, vết thương lâu lành v.v. Rối loạn cương dương, liệt dạ dày. Trầm cảm (người bị ĐTĐ bị trầm cảm cao hơn 2 đến 3 lần người không bị ĐTĐ).

7. CHẨN ĐOÁN BỆNH ĐTĐ

Dưới đây trình bày bảng tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh ĐTĐ và tiền ĐTĐ.

 

Tiền đái tháo đường

 

Đái tháo đường

 

HbA1c

 

5,7 – 6,4%

 

≥ 6,5%

 

Glucose máu lúc đói

 

5,6 – 6,9 mmol/L

(100 – 125 mg/dL)

 

≥ 7,0mmol/L

( ≥ 126 mg/dL)

Nghiệm pháp dung nạp glucose, glucose máu sau 2h  

7,8 – 11, 0 mmol/L

(140 – 199 mg/dL)

 

≥ 11,1 mmol/L

( ≥ 200 mg/dL)

Xét nghiệm máu bất kỳ + triệu chứng tăng đường máu hoặc cơn tăng đường huyết cấp.  

 

≥ 11,1 mmol/L

(≥ 200mg/dL)

 

Chú ý.

  • Nên khám sức khỏe định kỳ mỗi năm một lần để phát hiện sớm tiền ĐTĐ và ĐTĐ.
  • Khi đã được chẩn đoán tiền ĐTĐ hay ĐTĐ khám bệnh hàng năm (có thể sớm hơn) để phát hiện sớm các biến chứng và điều trị kịp thời.

8. ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐTĐ.

ĐTĐ là bệnh có cơ chế sinh bệnh phức tạp, nhiều yếu tố tham gia, cho nên, chiến lược điều trị phải đa dạng, vừa điều trị để kiểm soát đường huyết, đồng thời điều trị các biến chứng do bệnh ĐTĐ gây ra, hay những bệnh đồng mắc cấp hoặc mạn tính, tùy thuộc từng BN để lập kế hoạch điều trị (cá thể hóa). Là bệnh mạn tính, phải điều trị suốt đời, nên tuân thủ điều trị, uống thuốc theo đơn, làm đúng các chỉ dẫn của thầy thuốc sẽ quyết định thành, bại của điều trị.

  • Chế độ ăn, uống thích hợp cho BN ĐTĐ, luyện tập thể lực thường xuyên ngày ít nhất 30 phút theo tư vấn của thầy thuốc. Đây là yếu tố quan trọng BN phải thực hiện cho bất kể thể loại ĐTĐ nào, theo suốt quá trình điều trị của BN.
  • Theo dõi đường huyết. Là xét nghiệm quan trọng nhất để theo dõi diễn biến của bệnh, để điều chỉnh phương pháp, liều thuốc điều trị.
  • Thuốc viên hạ đường huyết (qua đường uống) cho những BN ĐTĐ tuyến tụy còn có khả năng tiết insulin (chủ yếu cho BN ĐTĐ típ-2 và tiền ĐTĐ, một số trường hợp ĐTĐ thai kỳ)
  • Insulin: là hormone do tế bào beta tuyến tụy tiết, là chất có tác dụng chính chuyển hóa đường trong cơ thể, insulin tổng hợp là thuốc có tác dụng điều trị cơ bản nhất điều trị các thể bệnh ĐTĐ, đặc biệt ĐTĐ típ-1, một số BN ĐTĐ típ-2. Có nhiều loại insulin tổng hợp đang được sử dụng: insulin tác dụng nhanh, tác dụng trung bình, chậm và rất chậm, được bác sỹ chỉ định cho những giai đoạn bệnh thích hợp. Nhiều cách đóng gói khác nhau như lọ, bút tiêm, ngửi qua mũi. Chỉ tiêm khi có chỉ định và hướng dẫn của thầy thuốc. Tác dụng không mong muốn nguy hiểm nhất của insulin là hạ đường huyết, có thể gây tử vong nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.
  • Để đề phòng các biến chứng tim mạch, cần quản lý, điều trị các tình trạng: kiểm soát huyết áp, cân nặng (không để tăng cân quá mức, béo phì), rối loạn mỡ máu.
  • Hiện nay, các thuốc điều trị bệnh ĐTĐ đã rất phát triển, kết hợp với các thuốc truyền thống, các thuốc thuộc nhóm ức chế SGLT (Sodium-glucose cotransporter inhibitor), nhóm GLP-1RA (glucagon-like peptide 1 Receptor agonist), đặc biệt y học tái tạo, sử dụng các tế bào gốc trung mô và các sản phẩm do tế bào này tiết ra đã cải thiện rất nhiều kết quả điều trị, giảm biến chứng, kéo dài tuổi thọ cho BN.

 

9. TIÊN LƯỢNG.

Tiên lượng bệnh ĐTĐ phụ thuộc vào những yếu tố sau đây:

  • Típ ĐTĐ
  • Thời gian bị ĐTĐ
  • BN có tuân thủ điều trị tốt không?
  • Các bệnh đồng mắc: ngoài bệnh ĐTĐ BN có thể có kèm theo các bệnh khác.
  • Các biến chứng do ĐTĐ gây nên, một hoặc nhiều biến chứng, mới xuất hiện hay đã lâu.

Cần lưu ý rằng: Đường trong máu tăng thường xuyên kéo dài có thể là nguyên nhân chính gây nên các biến chứng nặng không hồi phục, giảm tuổi thọ, giảm chất lượng cuộc sống. ĐTĐ là một trong 8 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở Mỹ, một số lớn BN ĐTĐ sẽ tử vong vì cơn tấn công tim (cơn nhồi máu cơ tim) hoặc đột quỵ. Những yếu tố sau đây sẽ làm tiên lượng bệnh ĐTĐ tốt hơn: Thay đổi, quản lý tốt lối sống hàng ngày, tập thể lực thường xuyên đều đặn, chế độ ăn uống thích hợp, và theo dõi đường máu thường xuyên theo định kỳ. Duy trì ổn định mức HbA1c ≤ 7% sẽ làm giảm nguy cơ các biến chứng do ĐTĐ.

 

10. PHÒNG BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG.

Còn khó khăn trong dự phòng các thể ĐTĐ do tự miễn và do di truyền. Tuy nhiên, một số biện pháp sau đây có thể giúp làm giảm nguy cơ phát triển bệnh tiền ĐTĐ và ĐTĐ.

  • Tầm soát để phát hiện sớm tiền ĐTĐ, ĐTĐ và các biến chứng của bệnh.
  • Chế độ ăn lành mạnh, hợp lý
  • Tập luyện thể lực thường xuyên ít nhất 30 phút mỗi ngày và liên tục 5 ngày trong tuần.
  • Duy trì cân nặng theo BMI
  • Tránh xảy ra những căng thẳng (stress) không đáng có.
  • Hạn chế (tốt nhất là không) uống rượu, bia
  • Ngủ đủ (7 đến 9h), điều chỉnh những nguyên nhân làm rối loạn giấc ngủ.
  • Không hút thuốc, nếu đã hút, cố gắng bỏ hút.
  • Điều chỉnh, điều trị các yếu tố nguy cơ đang tồn tại đối với bệnh tim./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Thái Hồng Quang. Thực hành lâm sàng bệnh Đái tháo đường. Nhà xuất bản Y học. Năm 2012

2. Hội Nội tiết ĐTĐ Việt Nam. Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường. Nhà Xuất bản Y học năm 2018

3. IDF diabetes Atlas 11th edition 2025

4. American Diabetes Association Standards of Medical Care Diabetes 2026.

 

Xem thêm

Một số thuốc không dùng để điều trị đái tháo đường nhưng có thể gây tăng hoặc hạ glucose máu

PGS.TS. Hoàng Trung Vinh – Học viện Quân y Thuốc có thể gây tăng glucose …